Tổng quan về Liên Bang Nga

Tổng quan về Liên Bang Nga
Đánh giá nội dung !

Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh sẽ diễn ra tại Liên Bang Nga một trong những quốc gia rộng lớn nhất thế giới dưới đây là những thông tin cơ bản về nước Nga mà 8chiase.com muốn giới thiệu đến các bạn đang và có ý định sẽ đến nước Nga xem những trận cầu hấp dẫn tài kỳ world cup 2018 này nhé !

Liên Bang Nga là quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới (17 098 242 км²). Lãnh thổ LBN trải dài trên hai châu lục: phía đông châu Âu và phía bắc châu Á, chiếm 1/3 diện tích lục địa Á-Âu và 1/9 diện tích phần lục địa của toàn thế giới. ​

LBN giáp ranh với 18 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm: Kazakhstan, Trung Quốc, Mông Cổ, Ukraina, Phần Lan, Bêlarut, Nam Ossetia, Gruzia, Abkhazia, Estonia, Azerbaijan, Litva, Latvia, Ba Lan, Na Uy, Nhật Bản, Mỹ và CHDCND Triều Tiên.​

Sự phân chia lãnh thổ theo đơn vị hành chính​

Năm 2009, LBN chia thành 85 đơn vị hành chính, bao gồm: 22 nước Cộng hòa, 9 vùng lãnh thộ, 46 vùng, 4 vùng phụ cận và 1 khu tự trị, Matxcơva, Sant Peterburg và Sevastopol là 3 thành phố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vào tháng 3 năm 2014, Crimea chính thức sát nhập, trở thành một phần của lãnh thổ LBN.​

Sự phân chia lãnh thổ theo tự nhiên​

Xét theo tự nhiên, lãnh thổ LBN chia thành hai phần: phía Đông và Phía Tây. Dãy núi Ural là ranh giới tự nhiên giữa hai châu lục, ranh giới giữa hai phần.​

Phần lãnh thổ phía Đông (phía đông dãy Ural) bao gồm vùng Siberia và vùng Viễn Đông. Địa hình chủ yếu là khu vực núi cao.​

Phần lãnh thổ phía Tây (phía tây dãy Ural) bao gồm toàn bộ phần lãnh thổ nằm trên châu Âu. Địa hình chủ yếu gồm các vùng đồi núi thấp và bình nguyên.​

Lá cờ Liên bang Nga (Russian Federation)

Khái quát chung về nước Nga :

  • Tên nước: Liên bang Nga (Russian Federation).
  • Thủ đô: Mát-xcơ-va (Moscow).
  • Ngày Quốc khánh: 12 tháng 6 năm 1990 (Ngày Tuyên bố chủ quyền).
  • Vị trí địa lý: Nằm ở phía Bắc Lục địa Á-Âu; phía Đông tiếp giáp Bắc Thái Bình Dương; phía Tây tiếp giáp với Đông và Bắc Âu; phía Bắc tiếp giáp với Bắc Băng Dương; phía Nam tiếp giáp với các nước Cáp-ca-dơ, Trung Á và Đông Bắc Á.
  •  Diện tích : 17.075.400 km2 (đứng thứ nhất trên thế giới).
  • Khí hậu : Cận Bắc Cực và Ôn đới; nhiệt độ trung bình năm: -1 độ C.
  • Dân số: 142,9 triệu người (theo Tổng điều tra dân số 2010).
  • Dân tộc: Trên 180 dân tộc, trong đó người Nga chiếm 77,7%, người Tác-ta – 3,7%, người U-crai-na – 1,35%… (theo Tổng điều tra dân số 2010)
  • Ngôn ngữ: Tiếng Nga.
  • Đơn vị tiền tệ: Đồng Rúp (Rouble)
  • Tôn giáo: Cơ đốc giáo Chính thống (75% dân số), Hồi giáo (5% dân số) và các tôn giáo khác như Phật giáo, Do thái giáo, Tin lành… (số liệu thăm dò dư luận do VSIOM công bố tháng 3/2010)
  • Thể chế : Theo Hiến pháp năm 1993, Nga là Nhà nước Pháp quyền Dân chủ liên bang, gồm 83 chủ thể (nước cộng hòa, tỉnh, tỉnh tự trị…). Bộ máy nhà nước được tổ chức theo hình thức Cộng hòa Tổng thống, Tổng thống được trao nhiều quyền hạn.

Thông tin chi tiết về Liên Bang Nga 

Vị trí địa lý 

Nga (Russian) hay còn gọi là Liên Bang Nga trước đây là Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết (viết tắt là Liên Xô) là quốc gia rộng nhất thế giới với diện tích 17.075.400km2 (xấp xỉ diện tích Hoa Kỳ và Trung Quốc cộng lại) trải dài từ miền Đông Châu Âu, qua trên phía Bắc Châu Á, sang đến bờ Thái Bình Dương. Phần đất liền của Nga tiếp giáp với 16 nước: Na Uy, Phần Lan, Estonia, Litva, Ba Lan Belarus, Ukraina, Gruzia, Azerbaizan, Kazahstan, Trung Quốc, Mông cổ, Bắc Hàn.

Nước Nga có diện tích khoảng 17 triệu km2 gấp 1,8 lần diện tích của nước Mỹ. Phần lớn đất đai Nga là các đồng bằng rộng lớn, ở cả Châu Âu và Châu Á. Các đồng bằng này chủ yếu là thảo Nguyên về phía nam và rừng rậm về phía bắc, với các lãnh nguyên dọc theo bờ biển phía bắc.

Các dãy núi chủ yếu nằm ở biên giới phía Nam, chẳng hạn như Caucasus (ở đây có đỉnh Elbrus, là điểm cao nhất thuộc Nga và Châu Âu với cao độ 5.633m) và dãy Altai, cũng như ở phần phía đông, chẳng hạn như dãy Verkhoyansk hoặc các núi lửa trên Kamchatka.

Khí hậu nước Nga

Khí hậu ở Nga rất đa dạng và phong phú. Nga có diện tích lãnh thổ rộng lớn, trải dài từ từ Châu Á sang phía Đông Âu, bao gồm nhiều loại vùng với các điều kiện khí hậu khác nhau. Mặc dù có nhiều biển và đại dương bao quanh nhưng do vị trí địa lý, do lãnh thổ rộng lớn nên Nga chủ yếu có khí hậu ôn đới lục địa. Phần phía bắc của Nga có khí hậu hàn đới và ven Biển Đen có khí hậu cận nhiệt đới. Với đặc điểm này mà mùa đông ở Nga rất khắc nghiệt và lạnh, nhưng mùa hè và mùa thu thời tiết lại rất dễ chịu và mát mẻ.

Kinh tế Liên Bang Nga 

Nước Nga đứng thứ 6 thế giới về tổng sản phẩm quốc dân và là một trong những nước đứng đầu về sản xuất than, sắt, thép, quặng, dầu lửa và xi măng. Nước Nga (Liên Xô) trở thành cường quốc hạt nhân từ 1949. Cải tổ kinh tế, từ năm 1985 đến năm 1991, do Mi-khai-in Goóc-ba-chốp tiến hành, đã chuyển nền kinh tế quản lý tập trung sang phi tập trung.

Từ năm 1991, cải tổ đựơc đẩy mạnh thông qua việc áp dụng chính sách thị trường tự do và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, việc thiếu khuyến khích kinh tế đối với lực lượng lao động ảnh hưởng tới tất cả các thành phần kinh tế. Nhiều hàng hoá cơ bản bị thiếu do mạng lưới lưu thông kém. Lạm phát tràn lan và đồng rúp mất giá nhanh. Khu vực sản xuất thu hút 1/3 lực lượng lao động, gồm các ngành sản xuất thép, hoá chất, dệt và công nghiệp chế tạo máy. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng kém phát triển

Sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn, được tổ chức theo hình thức nông trường quốc doanh hay nông trang tập thể. Quyền sở hữu và canh tác đất đai tư nhân được áp dụng kể từ đầu những năm 90. Tuy đã cơ khí hoá và được ngành công nghiệp sản xuất phân bón lớn nhất thế giới hỗ trợ, song nông nghiệp của nước Nga vẫn chưa sản xuất đủ lương thực cho nhu cầu trong nước do năng suất thấp, ít kho bãi và các phương tiện vận tải. Hàng nhập khẩu từ U-crai-na và Ka-dắc-xtan cũng đóng vai trò quan trọng. Các cây trồng chính của Nga là lúa mỳ, yến mạch, khoai tây, củ cải đường và cây ăn quả. Nga có trữ lượng lớn nhất thế giới về than, 1/3 trữ lượng khí đốt và 1/3 diện tích rừng thế giới. Nga có các mỏ lớn măng gan, vàng, ka-li, bô-xít, nhôm, niken, chì, kẽm và đồng. Tiềm năng thuỷ điện, dầu và khí đốt cũng rất phong phú.

Khi lên cầm quyền, tổng thống Nga V.Pu-tin phải thừa nhận rằng những năm 90 thời En-xin cầm quyền, GDP của Nga giảm 50% chỉ còn tương đương 1/10 của Mỹ. Từ khi Pu tin lên làm thủ tướng, nhất là từ khi được bầu làm Tổng thống năm 2000, tình hình kinh tế, xã hội Nga đã có những bước chuyển biến mạnh: GDP năm 1999 tăng trưởng 3,2%, ngân sách bộ thu 90 tỷ rúp, xuất siêu 30 tỷ USD, GDP năm 2000 tăng 7%, thu nhập thực tế tăng 33,4%, thất nghiệp giảm 14,2%, dự trữ ngoại tệ là 32 tỷ USD (tháng 8 năm 1999 là 11,2 tỷ). Không những không vay nợ nước ngoài mà còn trả IMF được 4,7 tỷ USD. Sáu tháng đầu năm 2001, GDP tăng 5,4% công nghiệp 5,5%, nông nghiệp 3,5%, dự trữ ngoại tệ 32,6 tỷ USD, xuất khẩu đạt 99 tỷ USD, nhập khẩu 33 tỷ USD, sản xuất điện năng đạt 834 tỷ kWh, thuỷ điện 19%, điện nguyên tử đạt 12,82%) tiêu thụ điện 778,36 tỷ kWh.

Văn hóa Liên Bang Nga 

Nga là quốc gia đa số theo Chính Thống giáo vốn là một hệ phái Ki-tô giáo. Các tôn giáo khác có Phật Giáo Mật Tông, Hồi giáo, các dạng tín ngưỡng khác nhau của Tin lành, đạo Do Thái, Thiên Chúa Giáo.

Văn hoá Nga khá đa dạng và mang nhiều nét đặc trưng thể hiện ở những nét văn hoá truyền thống như trang phục, âm nhạc, nghề truyền thống.

Trang phục truyền thống của phụ nữ Nga gồm 4 loại cơ bản là váy poneva, váy sarafan, váy andarak và váy kubelek.

Bộ trang phục với váy poneva bao gồm có áo cánh, thắt lưng, chiếc váy poneva, yếm đằng trước, khăn đội đầu dạng con chim ác là, trang sức bằng lông chim và hạt cườm, giày được bện từ vỏ cây hoặc bằng da. Đây là troang phục có ở các tỉnh phía Nam phần Châu Âu: Vorenezh, Kaluzh, Kursk, Ryazan, Tambov, Tul, Orlov, một phần của Smolen.

Bộ trang phục váy andarak gồm áo cánh, váy, áo nâng ngực, tấm thắt lưng lớn, khăn bịt đầu kiểu kokoshnik. Chúng có mặt tại Ryazan, Orlov, Kursk, Tambov.

Trang phục truyền thống của nam là những trang phục của người Slavơ bao gồm có áo dài thắt ngang lưng, quần không quá rộng, giày da hoặc bện bằng vỏ cây, mũ có hoặc không có vành. Như một nguyên tắc, áo buông đến cạp quần thì thắt lại.

Nga rất nổi tiếng với những điệu múa dân gian được biểu diễn trong các dịp lễ hội cùng với tiếng đàn balalaika-một nhạc cụ truyền thống. Đàn balalaika không chỉ là một nhạc cụ đơn thuần mà còn mang trong mình cả tâm hồn Nga và trở thành một trong biểu tượng của văn hoá Nga.

Văn hoá Nga còn được thể hiện quạ những làng nghề truyền thống như nghề thêu thùa, đồ chơi thủ công mỹ nghệ truyền thống làm bằng đất sét của các vùng Tver, Dymkovo, Karpol, Yaroslavl, Abashevo và đặc biệt là những búp bê Matrioshka – đồ lưu niệm được tiện bằng gỗ, được vẽ bao gồm nhiều mẫu lớn nhỏ lồng vào nhau. Đây là những món quà lưu niệm được khách du lịch mua nhiều nhất khi đến Nga.

Tôn giáo Liên Bang Nga 

Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo và Phật giáo là các tôn giáo truyền thống của Nga, được cho là một phần của “di sản lịch sử” Nga trong một điều luật được thông qua năm 1997. Những con số ước tính về các tín đồ rất khác biệt tuỳ theo các nguồn, và một số báo cáo đưa ra con số người vô thần ở Nga là 16–48% dân số. Chính thống giáo Nga là tôn giáo chiếm đa số ở Nga. 95% xứ đạo có đăng ký thuộc Giáo hội Chính thống Nga trong khi có một số Giáo hội Chính thống nhỏ hơn. Tuy nhiên, đa số tín đồ Chính thống không thường xuyên tới nhà thờ. Tuy thế, Nhà thờ được cả các tín đồ và người vô thần kính trọng và coi nó là một biểu tượng của di sản và văn hoá Nga. Các phái Cơ đốc giáo nhỏ hơn như Công giáo Rôma, và nhiều phái Tin Lành có tồn tại.

Tổ tiên của nhiều người Nga hiện nay đã chấp nhận Cơ Đốc giáo Chính thống ở thế kỷ thứ 10. Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2007 do Bộ ngoại giao Mỹ xuất bản đã nói rằng có xấp xỉ 100 triệu công dân coi họ là tín đồ Giáo hội Chính thống Nga. Theo một cuộc điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Ý kiến Công chúng Nga, 63% người tham gia coi họ là tín đồ Chính thống Nga, 6% tự coi mình là tín đồ Hồi giáo và chưa tới 1% coi mình là tín đồ hoặc của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành hay Do Thái giáo. 12% khác nói họ tin vào Chúa, nhưng không thực hiện bất kỳ tôn giáo nào và 16% nói họ là người vô thần.

Ẩm thực của nước Nga

Ẩm thực đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội Nga. Những ảnh hưởng của phương Tây đang có tác động đáng kể đến thói quen ăn uống và khẩu vị của người dân, khi các hãng McDonalds phát triển tràn lan, và các quán cà phê theo phong cách Paris xuất hiện trên các lề phố Moskva hay St.Petersburg. Tuy nhiên, những món ăn truyền thống và các đặc sản của Nga như rượu vodka hay bánh mì “karavai” vẫn giữ nguyên tầm quan trọng của chúng trong các bữa tiệc hay lễ lớn của Nga.

Vào mùa đông, nhiệt độ có thể xuống tới -20 °C tại thủ đô Moskva, vì thế, các thức ăn béo, giàu năng lượng như bánh mì, trứng, bơ hay sữa là rất cần thiết. Ngoài ra còn có những món đặc sản đặc biệt như schi (súp thịt bò và rau cải) hay borssh (súp củ cải đỏ với thịt lợn). Đôi khi người ta cũng ăn khoai tây nghiền, rán vào cuối bữa hoặc bliny, một loại bánh kếp ăn kèm với mật ong hoặc trứng cá.

Ngoài thức ăn, người Nga còn có nhiều đồ uống nổi tiếng trên thế giới như rượu vodka thường được làm từ lúa mạch đen hay lúa mỳ. Đôi khi nó còn được pha thêm tiêu, dâu haychanh. Một đồ uống nổi tiếng khác là sbiten, được làm từ mật ong và thêm một chút hương liệu khác như dâu. Chè cũng là một thứ đồ uống nổi tiếng khác. Nó là một loại đồ uống truyền thống và đôi khi cũng được uống kèm sữa.

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga 

MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA

– Ngày 30/01/1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.

– Ngày 16/6/1994, Việt Nam và Liên bang Nga ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga, đặt nền móng và cơ sở pháp lý cho quan hệ trong giai đoạn phát triển mới.

– Ngày 01/03/2001, Việt Nam và Nga ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược.

1. Quan hệ chính trị

Quan hệ chính trị Việt – Nga có độ tin cậy cao và không ngừng được củng cố. Trao đổi đoàn cấp cao diễn ra thường xuyên, tạo động lực mạnh mẽ cho việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước.

Lãnh đạo cấp cao Việt Nam thăm Nga (từ năm 2001):

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm chính thức Nga tháng 10/2002 và tháng 7/2010. Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm chính thức Nga tháng 5/2004; Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm chính thức Nga tháng 8/2008, dự Lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng phát xít tại Mát-xcơ-va và thăm địa phương Nga tháng 5/2010. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Nga tháng 9/2007 và thăm làm việc tháng 12/2009. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm chính thức Nga tháng 1/2003; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Nga tháng 4/2009.

Lãnh đạo cấp cao Nga thăm Việt Nam (từ năm 2001):

Tổng thống Nga V. Pu-tin thăm chính thức Việt Nam tháng 3/2001 và tháng 11/2006; Tổng thống Nga Đ. Mét-ve-đép thăm chính thức Việt Nam và dự Cấp cao ASEAN – Nga lần hai tháng 10/2010. Thủ tướng Nga M. Ca-xia-nốp thăm Việt Nam tháng 3/2002; Thủ tướng Nga M. Phờ-rát-cốp thăm chính thức Việt Nam tháng 2/2006. Chủ tịch Hội đồng Liên bang X. Mi-rô-nốp thăm chính thức Việt Nam tháng 1/2005.

Từ năm 2008 Việt Nam và Nga thiết lập cơ chế Đối thoại chiến lược ngoại giao – an ninh – quốc phòng thường niên cấp Thứ trưởng thường trực Ngoại giao (đến nay đã tiến hành 4 lần). Ngoài ra, hai bên tiến hành tham vấn chính trị thường kỳ cấp Thứ trưởng Ngoại giao và cấp Cục, Vụ trong khuôn khổ hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao.

Hai Bên đồng quan điểm về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, phối hợp chặt chẽ và ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, APEC, ARF…; đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ ASEAN – Nga. Cấp cao ASEAN – Nga lần hai đã diễn ra thành công tại Hà Nội tháng 10/2010. Việt Nam đã hỗ trợ tích cực để Nga chính thức được kết nạp vào ASEM tháng 10/2010 và tham gia Cấp cao Đông Á từ năm 2011.

2. Hợp tác kinh tế

Hợp tác kinh tế – thương mại Việt Nam – Liên bang Nga thời gian qua phát triển năng động, dù vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hai nước.

Hai nước duy trì cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế – thương mại và khoa học – kỹ thuật (Khóa họp lần thứ 14 diễn ra tháng 9/2010 tại Mát-xcơ-va) và Họp đồng Chủ tịch Ủy ban liên Chính phủ (cuộc gặp hai Đồng Chủ tịch Ủy ban liên Chính phủ diễn ra tháng 11/2011 tại Hà Nội). Hội đồng doanh nghiệp Việt – Nga được thành lập nhằm hỗ trợ xúc tiến thương mại, đầu tư cho công đồng doanh nghiệp hai nước. Việt Nam và Nga đã công nhận lẫn nhau có nên kinh tế thị trường năm 2007.

a. Thương mại

Thương mại hai chiều, từ chỉ khoảng 350 – 400 triệu USD giữa những năm 1990, đã đạt 1,828 tỷ USD năm 2010, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 829 triệu USD, nhập khẩu đạt 999,1 triệu USD. Kim ngạch thương mại năm 2011 đạt 1,98 tỷ USD tăng 8,1% so với năm 2010, trong đó xuất khẩu đạt 1,28 tỷ USD, nhập khẩu đạt 694 triệu USD.

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Nga gồm điện thoại, may mặc, nông, thủy, hải sản các loại…; các mặt hàng nhập khẩu chính gồm xăng dầu, sắt thép, phân bón, máy móc, thiết bị các loại…

Một số vướng mắc trong hợp tác thương mại như vấn đề kiểm soát chất lượng nông, thủy, hải sản xuất khẩu của Việt Nam, vấn đề thanh toán xuất nhập khẩu đã và đang dần được tháo gỡ. Việt Nam và các nước Liên minh thuế quan (Nga, Bê-la-rút và Ca-dắc-xtan) đang tiến hành nghiên cứu khả thi về việc thành lập khu vực mậu dịch tự do, tiến tới bắt đầu đàm phán trong thời gian tới.

Năm

Kim ngạch

(triệu USD)

Tăng trưởng kim ngạch (%)

Xuất khẩu của VN

(triệu USD)

Nhập khẩu của VN

(triệu USD)

2006

869,97

-14,7

413,21

456,76

2007

1010,57

16,2

458,45

552,12

2008

1641,52

62,4

671,95

969,57

2009

1829,62

11,5

414,89

1414,73

2010

1828,77

0

829,7

999,07

2011

1981

8,1

1287

694

b. Đầu tư

Tính đến hết tháng 11/2011, Nga có 76 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký là 933,9 triệu USD, đứng thứ 23 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo… Đầu tư của Việt Nam sang Nga hiện đạt 776 triệu USD, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dầu khí, tiếp đó là ngân hàng, thương mại… (nguồn: Cục Đầu tư Ngoài nước)

c. Hợp tác năng lượng

Năng lượng là lĩnh vực hợp tác truyền thống chiến lược và hiệu quả, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách Việt Nam và Nga. Bên cạnh việc tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đến năm 2030, hai nước đã thành lập các Liên doanh Rusvietpetro, Vietgazprom, Gazpromviet để mở rộng hợp tác dầu khí ở Việt Nam, Nga và các nước thứ ba. Liên doanh Rusvietpetro đã khai thác dòng dầu thương mại đầu tiên tại mỏ Bắc Khô-xê-đa-út, Nga tháng 9/2010 và tại mỏ Vi-xô-vôi, Nga tháng 7/2011. Hai nước đã đạt được thỏa thuận tiếp tục hợp tác trong việc xây mới và hiện đại hóa các công trình năng lượng tại Việt Nam. Ngày 31/10/2010 hai bên đã ký Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam và tháng 11/2011 hai Bên đã ký Hiệp định về việc Nga cấp tín dụng để triển khai dự án trên.

3. Hợp tác văn hóa – du lịch, giáo dục – đào tạo

Các hoạt động giao lưu văn hoá được tổ chức thường xuyên, góp phần tăng cường hiểu biết và hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Nga. Tháng 11/2010 diễn ra Những ngày văn hóa Nga tại Việt Nam; Những ngày văn hóa Việt Nam đã được tổ chức tại Nga tháng 9/2011. Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn với du khách Nga. Từ 01/01/2009, Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho du khách Nga vào Việt Nam dưới 15 ngày.

Trước đây, Liên Xô đã giúp Việt Nam đào tạo gần 40 nghìn cán bộ và chuyên gia giỏi thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Hiện nay, Nga tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực, năm 2011 Nga tiếp tục cấp cho Việt Nam 345 suất học bổng đại học và sau đại học tại các trường của Nga và sẽ tăng lên 575 suất cho năm 2012. Hiện có khoảng hơn 5000 sinh viên Việt Nam du học tại Nga. Hai bên đã thỏa thuận thành lập Đại học Công nghệ Việt – Nga tại Việt Nam.

4. Hợp tác trong các lĩnh vực khác

a. Hợp tác an ninh – quốc phòng được đẩy mạnh. Việt Nam và Nga duy trì Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kỹ thuật quân sự cấp Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, đã tiến hành được 13 khoá họp kể từ năm 1999 (Khóa họp thứ 13 diễn ra tháng 11/2011 tại Việt Nam).

b. Hợp tác khoa học – kỹ thuật tiếp tục được duy trì. Hai nước đã thực hiện gần 60 dự án nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Hợp tác nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ Trung tâm Nhiệt đới tại Việt Nam mang lại nhiều kết quả tích cực.

c. Hợp tác địa phương tiếp tục được duy trì và tăng cường thông qua trao đổi đoàn và ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác. Nhiều địa phương hai nước đã thiết lập quan hệ hợp tác với nhau, đặc biệt giữa Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh với Mát-xcơ-va và Xanh Pê-téc-bua.

5. Cộng đồng Việt Nam tại Nga

Do yếu tố lịch sử, cộng đồng người Việt Nam (khoảng 60-80 nghìn người) đã tồn tại và làm ăn, sinh sống tại Nga gần hai thập kỷ. Số người Việt Nam định cư ở Nga không nhiều, chỉ khoảng 1%. Thời gian gần đây Nga chủ trương lập lại trật tự trong lĩnh vực lao động nước ngoài tại Nga, đưa ra một số quy định mới, ảnh hưởng nhất định đến việc sinh sống và làm ăn của cộng đồng Việt Nam tại Nga. Đa số đang tìm cách chuyển đổi hình thức kinh doanh, một bộ phận trở về Việt Nam.

6. Các Hiệp định đã ký kết

Cơ sở điều ước pháp lý mới cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã được tạo dựng khá đầy đủ và đang tiếp tục được hoàn thiện. Từ năm 1991 đến nay đã có trên 60 văn kiện hợp tác đã được ký kết thuộc tất cả lĩnh vực như dầu khí, điện hạt nhân, kinh tế – thương mại, giáo dục – đào tạo, văn hóa – khoa học, kỹ thuật quân sự, trong đó có một số văn kiện quan trọng như:

+ Hiệp định về xử lý nợ của Việt Nam đối với các khoản tín dụng đã được cung cấp trước đây (9/2000);

+ Hiệp định LCP về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam (10/2010);

+ Hiệp định LCP về tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đến năm 2030 (12/2010);

+ Hiệp định LCP về việc cấp tín dụng cho dự án xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận…./.

(Nguồn: Bộ Ngoại giao cập nhật tháng 6/2012)